Theo quy định của pháp luật, hành vi trộm cắp tài sản có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tội trộm cắp tài sản là tội danh thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu, người nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 – sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì mức phạt cao nhất có thể lên tới 20 năm tù, Hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Bài viết này Công ty Luật TNHH Thế Kỷ Mới sẽ phân tích các quy định của pháp luật để Quý khách hàng và Quý độc giả có thể nắm bắt được các quy định của pháp luật liên quan đến loại tội phạm này.
1. Hành vi trộm cắp tài sản là gì:
Hiện nay pháp luật không định nghĩa cụ thể về khái niệm trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, hiện nay, từ thực tiễn xét xử và ý chí của các văn bản trước đó có thể định nghĩa: trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người quản lí. Các dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản như sau:
- Hành vi xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản (bao gồm vật, tiền và giấy tờ có giá) của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân
- Có tính chất lén lút nhằm che giấu hành vi phi pháp.
- Tài sản thuộc sở hữu của người khác và đang trong sự quản lý của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản.
2. Các trường hợp trộm cắp tài sản bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, thì hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác chỉ cấu thành tội trộm cắp tài sản khi tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng đồng trở lên. Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng, thì phải thuộc một trong các trường hợp sau:
- Trường hợp thứ nhất: Người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi chiếm đoạt tài sản như: Cướp tài sản; Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Cưỡng đoạt tài sản; Cướp giật tài sản; Công nhiên chiếm đoạt tài sản; Trộm cắp tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
- Trường hợp thứ hai: Người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
- Trường hợp thứ ba: Hành vi trộm cắp tài sản gây hành hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội là trường hợp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng gây ra ảnh hưởng xấu (rất xấu hoặc đặc biệt xấu) đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Trường hợp thứ tư: Phạm tội trộm cắp tài sản do tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sổng chính của người bị hại và gia đình họ là trường hợp trộm cắp tài sản (có giá trị đặc biệt) nêu trên có giá trị dưới 2.000.000 đồng. Khi áp dụng tình tiết này càn phải đánh giá ý nghĩa của đối tượng tác động của tội phạm đối với người bị hại và gia đình người bị hại trên phương diện giá trị kiếm sống của đối tượng tác động của tội phạm đối với của người bị hại và gia đình họ.
- Trường hợp thứ năm: Phạm tội trộm cắp tài sản do tài sản là di vật, cổ vật. Trong đó, di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt về lịch sử, vãn hóa, khoa học và có từ một trăm năm tuổi trở lên.
Các trường hợp phạm tội trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại một trong các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 173 BLHS, tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng.
Đối với các hành vi trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng nhưng không thuộc trường hợp nêu tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 15 nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021. Mức phạt tiền đối với hành vi này từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
3. Chủ thể của tội trộm cắp tài sản:
Chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại tất cả các khoản 1, 2, 3, và 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chỉ là chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại các khoản 3 và 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
4. Hình phạt:
Điều 173 BLHS quy định 4 khung hình phạt.
- Khung 1 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm áp dụng đối với người phạm tội không có tình tiết tăng nặng định khung hình phạt.
- Khung 2 quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; Hành hung để tẩu thoát; Tái phạm nguy hiểm.
- Khung 3 quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiếm đoạt tài sàn trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
- Khung 4 quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
- Hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự là người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật TNHH Thế Kỷ Mới về Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự.
Trường hợp Quý khách hàng cần tư vấn thêm, vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH Thế Kỷ Mới để được tư vấn miễn phí.
Trân trọng!
********
Liên hệ ngay Công ty Luật TNHH Thế Kỷ Mới – New Century Law Firm để nhận báo giá và tư vấn miễn phí
- Zalo: 0967956278- 0974671804
- Fanpage: https://www.facebook.com/Luatthekymoi?locale=vi_VN
- Email: Luatthekymoi@gmail.com
- Website: https://luatthekymoi.vn/
- Địa chỉ: Tổ 1, cụm 5, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội
