TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015

Tội cướp tài sản là tội danh thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu, người nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về Tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì mức phạt cao nhất có thể lên tới tù chung thân.

Đặc biệt, có 02 quy định cần chú ý của loại tội này là hành vi cướp tài sản chỉ truy cứu TNHS mà không có xử phạt vi phạm hành chính và Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (trong các tội xâm phạm quan hệ sở hữu chỉ có tội này và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là có quy định hình phạt về hành vi chuẩn bị phạm tội) .

Mặc dù Bộ luật hình sự (BLHS) và các văn bản hướng dẫn đã có nhiều quy định thi hành, tuy nhiên trong thực tiễn việc giải quyết tội danh này vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Bài viết này Công ty Luật TNHH Thế Kỷ Mới sẽ phân tích các quy định của pháp luật và nêu tình huống thực tiễn chúng tôi từng xử lý vụ án để Quý khách hàng và Quý độc giả có thể nắm bắt được các quy định của pháp luật liên quan đến loại tội phạm này.
1.    Cấu thành tội phạm tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự

1.1.  Chủ thể:

Chủ thể của tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017 là bất kỳ người nào có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể:

–       Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật Hình sự có quy định khác.

–       Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu các khung hình phạt rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng của tội cướp tài sản.

(Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017

1.2.  Khách thể:

–       Hành vi cướp tài sản đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.

–       Ngoài ra, hành vi đó còn có thể xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của chủ tài sản, người quản lý tài sản hoặc người cản trở việc thực hiện hành vi tội phạm.

1.3.  Mặt khách quan của tội phạm:

–       Hành vi dùng vũ lực: Người phạm tội dùng sức mạnh vật chất để tấn công người chủ tài sản, người quản lý tài sản hoặc người cản trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội nhằm xóa bỏ sự phản kháng, lấn át của người cản trở để chiếm đoạt tài sản đó.

–       Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: Người phạm tội đe dọa dùng vũ lực ngay tại thời điểm phạm tội, được thể hiện bằng lời nói hoặc cử chỉ hành động đe dọa sẽ tấn công người chủ tài sản, người quản lý tài sản hoặc người cản trở nếu không đáp ứng yêu cầu hoặc có ý định ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.

–       Có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự để chiếm đoạt tài sản: Khác với hai hành vi trên, người phạm tội sẽ dùng mọi cách thức, thủ đoạn đưa nạn nhân rơi vào tình trạng không còn khả năng quản lý được tài sản.

1.4.  Mặt chủ quan:

–       Về mặt lỗi: Lỗi cố ý trực tiếp

–       Về động cơ phạm tội: Tư lợi cá nhân, mong muốn chiếm đoạt tài sản đó thể thu lợi từ giá trị tài sản mang lại.

–       Về mục đích phạm tội: Chiếm đoạt tài sản của người khác và ý định chiếm đoạt này phải được nảy sinh từ trước.

2.    Hình phạt với tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự

Tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 – sửa đổi, bổ sung năm 2017 được quy định như sau:

2.1.  Khung 1 (Khoản 1, Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017):

–       Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2.2.  Khung 2 (Khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

Có tổ chức;

–       Có tính chất chuyên nghiệp;

–       Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

–       Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

–       Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

–       Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

–       Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

–       Tái phạm nguy hiểm.

2.3.  Khung 3 (Khoản 3, Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

–       Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

–       Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

–       Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

2.4.  Khung 4 (Khoản 4, Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

–       Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

–       Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

–       Làm chết người;

–       Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

2.5.  Người chuẩn bị phạm tội (Khoản 5, Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017):

–       Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2.6.   Hình phạt bổ sung (Khoản 6, Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017):

–       Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

3.    Phân tích tình huống:

3.1.       Tình huống : 

–       Chiều ngày 11/6/2023 Phạm Văn A (19 tuổi) đi lang thang thấy một người đang sửa chiếc xe gắn máy Vision nhãn hiệu Honda ở ven đường (trị giá khoảng 32 triệu) nên đứng lại xem. Người chủ xe máy chữa xe mãi không được nên nhờ A chữa giúp. A nhận lời.

–       Sau khi sửa xe xong, A ngồi lên xe khởi động máy, máy nổ. Lợi dụng chủ xe đang buộc hành lý vào sau xe A đã cài số phóng xe đi thẳng.

–       Ngày hôm sau A đem xe đến một cửa hàng cầm đồ để bán thì bị Công an hình sự bắt giữ. Chiếc xe máy được Cơ quan điều tra- Công an huyện X giao trả cho người chủ xe tên là Nguyễn Văn B.

3.2.       Phân tích tình huống:

Đối với Hành vi của A lấy chiếc xe máy của B có dấu hiệu của tội cướp tài sản, cụ thể như sau:

–       Thứ nhất: A đã có hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của B, cụ thể là hành vi “Sau một hồi sửa chữa A ngồi lên yên, khởi động xe và phóng đi mất”. A lợi dụng sơ hở của B là tin tưởng vào người lạ sẽ giúp mình sửa xe nên B không đề phòng. Lúc A chiếm mất xe do quá bất ngờ nên B không giữ lại được chiếc xe mặc dù B có khả năng giữ lại và B biết là A đang chiếm đoạt chiếc xe của B. B hô hào nhờ người dân giúp đỡ nhưng không kịp.

–       Thứ hai: Khi chiếm được chiếc xe của B, A đã có hành vi nhanh chóng tẩu thoát và tẩu tán tài sản. Thể hiện ở hành vi A khởi động xe và phóng vọt đi. Ngày hôm sau A đem xe đến một cửa hàng cầm đồ để bán thì bị Công an hình sự bắt giữ.

3.3.       Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm như sau:

a.    Mặt khách quan:

–       Hai hành vi công khai chiếm đoạt chiếc xe máy và nhanh chóng tẩu thoát của A trong trường hợp này là hành vi về mặt khách quan của tội cướp tài sản. Hành vi này làm cho người bị tấn công (anh B) lâm vào tình trạng không thể chống cự được, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi chiếm đoạt tài sản và hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm hoàn thành khi hậu quả phạm tội xảy ra.

–       Các tình tiết của vụ án cho thấy A lợi dụng Lợi dụng chủ xe đang buộc hành lý vào sau xe A đã cài số phóng xe đi thẳng. Như vậy, D đã thực hiện hành vi chiếm đoạt xe gắn máy Vision nhãn hiệu Honda của anh B bằng thủ đoạn bằng thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt rồi tẩu thoát. Tội phạm hoàn thành kể từ khi A chiếm đoạt được chiếc xe gắn máy Vision nhãn hiệu Honda  trị giá khoảng 32 triệu đồng.

b.   Mặt chủ quan: Lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp, động cơ tư lợi

c.    Chủ thể: Xét theo tình huống A đã 19 tuổi. D có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhận thức được hậu quả của hành vi đó những vẫn có ý thức chiếm đoạt bằng được tài sản của nạn nhân để thoả mãn động cơ tư lợi.

d.   Khách thể: Khách thể bị tội phạm xâm hại là quan hệ sở hữu tài sản của B. Đối tượng tác động của nó là tài sản của công dân. Hành vi của A lấy chiếc xe máy xe gắn máy Vision nhãn hiệu Honda thuộc sở hữu của B đã trực tiếp xâm hại tới quan hệ sở hữu tài sản của anh B. anh B đã mất quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt chiếc xe máy của mình

3.4.       Kết luận: Căn cứ vào các quy định của pháp luật nêu trên và phân tích bốn yếu tố cấu thành tội phạm là: chủ thể, mặt chủ quan, khách thể và mặt khách quan của tội phạm chúng ta thấy A có đủ những dấu hiệu để cấu thành tội cướp tài sản được quy định tại điều 168 Bộ luật hình sự 2015.

Bài viết này được viết bởi chuyên viên Lê Thị Phượng và được biên tập bởi Luật sư Nguyễn Văn Tuấn.

TRÂN TRỌNG!

********

Liên hệ ngay Công ty Luật TNHH Thế Kỷ Mới – New Century Law Firm để nhận báo giá và tư vấn miễn phí

Zalo: 0967956278- 0974671804

Fanpage: https://www.facebook.com/Luatthekymoi?locale=vi_VN

Email: Luatthekymoi@gmail.com

Website: https://luatthekymoi.vn/

Địa chỉ: Tổ 1, cụm 5, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *