CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CÓ ĐƯỢC ĐẠI DIỆN CÔNG TY KÝ KẾT HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH?
Chủ tịch Hội đồng quản trị (Chủ tịch HĐQT) là một trong những chức danh quan trọng nhất trong công ty cổ phần. Chủ tịch HĐQT có các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại điều 156 Luật doanh nghiệp 2020 (Luật DN) và Điều lệ Công ty.
Hiện nay, có một số Quý khách hàng thắc mắc về việc Chủ tịch HĐQT có được quyền đại diện cho Công ty ký kết Hợp đồng, giao dịch hay không? Bài viết này Công ty Luật TNHH Thế Kỷ Mới sẽ phân tích các căn cứ pháp lý liên quan đến vấn đề này để Quý khách hàng nắm rõ.
Nội dung chúng tôi phân tích trong bài viết này không bao gồm các quy định liên quan đến các loại hình doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tín dụng và các loại hình doanh nghiệp đặc thù khác theo quy định của pháp luật.
1. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ TỊCH HĐQT :
Theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2020 (Luật DN) thì Chủ tịch HĐQT do Hội đồng quản trị (HĐQT) bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trong số các thành viên HĐQT. Theo quy định tại khoản 3, điều 156 Luật DN thì Chủ tịch HĐQT có quyền và nghĩa vụ sau đây:
“a) Lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng quản trị;
b) Chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu phục vụ cuộc họp; triệu tập, chủ trì và làm chủ tọa cuộc họp Hội đồng quản trị;
c) Tổ chức việc thông qua nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị;
d) Giám sát quá trình tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị;
đ) Chủ tọa cuộc họp ĐHĐCĐ ;
e) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.”
Ngoài các quyền và nghĩa vụ nêu cụ thể trong Luật DN như trên, Chủ tịch HĐQT còn có một số quyền và nghĩa vụ khác nếu Điều lệ quy định.
2. CHỦ TỊCH HĐQT CÓ ĐƯỢC ĐẠI DIỆN CÔNG TY KÝ KẾT HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH?
Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta sẽ phân tích các trường hợp cụ thể như sau:
2.1. Trường hợp 1: Chủ tịch HĐQT không phải là người đại diện theo pháp luật của Công ty:
Đối với trường hợp này, Chủ tịch HĐQT không được đại diện công ty ký kết Hợp đồng, giao dịch. Trừ trường hợp được người đại diện theo pháp luật của Công ty ủy quyền
2.2. Trường hợp 2: Công ty có một người đại diện theo pháp luật. Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật của Công ty:
Căn cứ khoản 1 điều 12 Luật DN quy định:
“Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.”
Đối với trường hợp này, Chủ tịch HĐQT được đại diện công ty ký kết Hợp đồng, giao dịch . Tuy nhiên cần chú ý đến các nội dung như sau:
- Thứ nhất: Nếu Điều lệ quy định Giám đốc/Tổng Giám đốc mới được đại diện công ty ký kết Hợp đồng, giao dịch, thì Công ty cần phải sửa đổi Điều lệ cho phù hợp;
- Thứ hai: Đối với các Hợp đồng, giao dịch có giá trị lớn, nếu Điều lệ quy định trước khi ký kết Hợp đồng, giao dịch, người ký kết cần phải trình Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), HĐQT thông qua (tùy Công ty sẽ quy định tỉ lệ hoặc giá trị trong Điều lệ) thì Chủ tịch HĐQT mặc dù là người đại diện theo pháp luật, nhưng vẫn phải trình ĐHĐCĐ hoặc HĐQT thông qua dự thảo Hợp đồng, giao dịch .
2.3. Trường hợp 3: Công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật. Chủ tịch HĐQT là một trong số những người đại diện theo pháp luật của Công ty:
Căn cứ khoản 2, điều 12 Luật DN 2020 quy định:
“2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Như vậy, trường hợp này Chủ tịch HĐQT có được đại diện công ty ký kết Hợp đồng, giao dịch hay không phụ thuộc vào quy định tại Điều lệ. Tuy nhiên quy định này tồn tại nhiều bất cập, chúng tôi sẽ phân tích ở phần 4.
3. LƯU Ý VỀ VẤN ĐỀ THÔNG QUA HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH TRƯỚC KHI KÝ KẾT:
3.1. Các Hợp đồng, giao dịch trước khi ký kết cần phải được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT thông qua:
- Hợp đồng, giao dịch cần ĐHĐCĐ thông qua trước khi ký kết:
– Hợp đồng, giao dịch liên quan đến đầu tư hoặc bán tài sản theo quy định tại điểm d, khoản 2, điều 238 Luật DN
– Hợp đồng, giao dịch theo quy định tại khoản 1, khoản 3 điều 167 Luật DN
– Hợp đồng, giao dịch theo quy định tại khoản 4, điều 293 Nghị định Số: 155/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 Quy định chi tiết một số điều của Luật chứng khoán (đối với Công ty Đại chúng)
- Hợp đồng, giao dịch cần HĐQT thông qua trước khi ký kết:
– Hợp đồng, giao dịch mua, bán, vay, cho vay và Hợp đồng, giao dịch , giao dịch khác theo quy định tại điểm h, khoản 2, điều 153 Luật DN;
– Hợp đồng, giao dịch theo quy định tại khoản 1, khoản 3 điều 167 Luật DN
– Hợp đồng, giao dịch theo quy định tại khoản 5, điều 293 Nghị định Số: 155/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 Quy định chi tiết một số điều của Luật chứng khoán (đối với Công ty Đại chúng)
3.2. Hậu quả của Hợp đồng, giao dịch vô hiệu:
Căn cứ khoản 5, điều 167 Luật doanh nghiệp quy định về hậu quả của Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu như sau:
“5. Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu theo quyết định của Tòa án và xử lý theo quy định của pháp luật khi được ký kết không đúng với quy định tại Điều này; người ký kết Hợp đồng, giao dịch, cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có liên quan phải liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty khoản lợi thu được từ việc thực hiện Hợp đồng, giao dịch đó”.
Như vậy, đối với các Hợp đồng, giao dịch thuộc trường hợp phải được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT thông qua trước khi ký kết mà người đại diện ký Hợp đồng, giao dịch không thực hiện đúng quy định thì sẽ phải liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty khoản lợi thu được từ việc thực hiện Hợp đồng, giao dịch đó.
4. MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH:
4.1. Trường hợp Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật, tuy nhiên Điều lệ quy định Tổng Giám đốc/Giám đốc là người có thẩm quyền ký Hợp đồng, giao dịch:
Trường hợp này chúng tôi cho rằng Công ty phải sửa Điều lệ cho phù hợp theo hướng Chủ tịch HĐQT được đại diện công ty ký kết Hợp đồng, giao dịch để không mâu thuẫn giữa quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch HĐQT theo quy định tại điều 12 Luật DN và quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch HĐQT theo Điều lệ.
4.2. Luật DN chưa quy định quyền xác lập giao dịch của Người đại diện theo pháp luật:
Căn cứ khoản 1 điều 12 Luật DN quy định về Người đại diện theo pháp luật như sau:
“Điều 12. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.”
Trong khi đó, khoản 2 điều 134 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định về đại diện như sau:
“2. Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.”
Như vậy, khoản 1 điều 12 Luật DN quy định Người đại diện theo pháp luật “thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp”, chứ không quy định Người đại diện theo pháp luật được “xác lập” các giao dịch của doanh nghiệp. Rõ ràng, giữa quy định tại khoản 1 điều 12 Luật DN và khoản 2 điều 134 BLDS đang chưa có sự thống nhất đối với việc “xác lập giao dịch của người đại diện”. Điều này đặt ra dấu hỏi rằng trường hợp Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch HĐQT có quyền đương nhiên đại diện cho doanh nghiệp xác lập giao dịch của doanh nghiệp hay không? Hay cần phải có sự quy định cụ thể tại Điều lệ về vấn đề này?
4.3. Trường hợp Công ty có nhiều người đại diện theo pháp luật:
Căn cứ khoản 2, điều 12 Luật DN 2020 quy định:
“2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Như vậy, trường hợp này, theo quan điểm của nhà làm luật là nếu Điều lệ quy định người đại diện theo pháp luật có quyền ký kết Hợp đồng, giao dịch thì Hợp đồng, giao dịch đó mới có hiệu lực, và ngược lại. Tuy nhiên, trên thực tế việc ký kết Hợp đồng, giao dịch giữa các doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục. Chúng tôi nhận thấy rằng khi giao kết Hợp đồng, giao dịch doanh nghiệp chủ yếu căn cứ trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có tên người đại diện theo pháp luật đó hay không, ít trường hợp khi giao kết Hợp đồng, giao dịch doanh nghiệp yêu cầu đối tác xuất trình Điều lệ để kiểm tra các quy định trong Điều lệ. Quy định nêu trên của Luật DN dẫn đến doanh nghiệp có thể giao kết Hợp đồng, giao dịch với người đại diện theo pháp luật không có thẩm quyền.
Mặt khác, Do Điều lệ của doanh nghiệp là văn bản nội bộ của doanh nghiệp, văn bản này có thể thay đổi bất cứ lúc nào (trừ các công ty đại chúng). Khi xảy ra tranh chấp hoặc bị khởi kiện ra Tòa án/trọng tài, doanh nghiệp là bị đơn có thể cung cấp cho Tòa án/trọng tài một bản Điều lệ quy định theo hướng có lợi cho họ, ví dụ: từ chối thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật đã giao kết Hợp đồng, giao dịch. Khi đó, trách nhiệm sẽ thuộc về cá nhân người ký kết Hợp đồng, giao dịch mà doanh nghiệp đó lại không phải chịu trách nhiệm, trừ trường hợp bên còn lại chứng minh được việc doanh nghiệp đó biết mà không phản đối.
Do vậy, chúng tôi cho rằng nội dung nêu trên của Luật DN là chưa phù hợp. Trong điều luật nên cụ thể hóa theo hướng mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba mà không phụ thuộc vào Điều lệ Công ty. Trường hợp cá nhân người đại diện theo pháp luật đó làm trái quy định trong Điều lệ thì cá nhân người đại diện theo pháp luật đó phải chịu trách nhiệm bồi thường cho Công ty. Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đối với các hợp đồng, giao dịch do những người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký kết.
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật TNHH Thế Kỷ Mới về vấn đề Chủ tịch Hội đồng quản trị có được đại diện Công ty ký kết Hợp đồng, giao dịch hay không?
Trường hợp Quý khách hàng cần tư vấn thêm, vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH Thế Kỷ Mới để được tư vấn miễn phí.
Trân trọng!
********
Liên hệ ngay Công ty Luật TNHH Thế Kỷ Mới – New Century Law Firm để nhận báo giá và tư vấn miễn phí
Zalo: 0967956278- 0974671804
Fanpage: https://www.facebook.com/Luatthekymoi?locale=vi_VN
Email: Luatthekymoi@gmail.com
Website: https://luatthekymoi.vn/
Địa chỉ: Tổ 1, cụm 5, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội
