Doanh nghiệp nội địa mua phế liệu của DNCX có được miễn thuế xuất nhập khẩu không?
Căn cứ vào quy định tại Điều 71 Thông tư 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi theo khoản 49 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC), quy định cụ thể như sau:
“Thủ tục xử lý phế liệu, phế phẩm tiêu thụ nội địa, phế thải”
Phế liệu, phế phẩm thu được trong quá trình sản xuất hàng xuất khẩu khi mà bán hoặc tiêu thụ nội địa sẽ được miễn thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, việc này vẫn phải tuân thủ quy định về kê khai và nộp các loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và thuế bảo vệ môi trường (nếu có). Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần gửi hồ sơ đến cơ quan hải quan thông qua Hệ thống theo chỉ tiêu thông tin quy định tại mẫu số 04 Phụ lục IIa đi kèm với Thông tư trên. Trong trường hợp thực hiện bằng hồ sơ giấy, người khai hải quan sẽ cần khai theo mẫu số 06/BKKTT/TXNK Phụ lục VI đi kèm theo Thông tư.
Ngoài ra, theo quy định về xử lý phế thải, tổ chức hay cá nhân thực hiện theo các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Điều này có nghĩa là họ có trách nhiệm ghi chép sổ sách chi tiết và xuất trình cho cơ quan hải quan khi có kiểm tra.
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là quy định trên không đề cập cụ thể đến chính sách dành cho các doanh nghiệp mua phế liệu. Thêm vào đó, Điều 16 của Luật thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu năm 2016 cũng không liệt kê trường hợp doanh nghiệp nội địa mua phế liệu từ DNCX. Do vậy, doanh nghiệp mua phế liệu từ DNCX vẫn sẽ phải chịu thuế nhập khẩu, thuế GTGT và thuế bảo vệ môi trường (nếu có).
Người nộp thuế thuế xuất nhập khẩu là những ai?
Theo quy định tại Điều 3 của Luật thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu năm 2016, người nộp thuế xuất khẩu được xác định như sau:
- Chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
- Tổ chức nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu.
- Người xuất cảnh, nhập cảnh có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, gửi hoặc nhận hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam.
-
Người được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thuế thay cho người nộp thuế, bao gồm:
- Đại lý làm thủ tục hải quan trong trường hợp được người nộp thuế ủy quyền nộp thuế.
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thuế thay cho người nộp thuế.
- Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh, nộp thuế thay cho người nộp thuế.
- Người được ủy quyền trong trường hợp hàng hóa là quà tặng hoặc hành lý của người xuất nhập cảnh.
- Chi nhánh của doanh nghiệp được ủy quyền nộp thuế thay cho doanh nghiệp.
- Người khác được ủy quyền nộp thuế thay cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật.
- Người thu mua, vận chuyển hàng hóa trong định mức miễn thuế của cư dân biên giới nhưng không sử dụng cho sản xuất, tiêu dùng mà đem bán tại thị trường trong nước, cũng như thương nhân nước ngoài được phép kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chợ biên giới theo quy định của pháp luật.
- Người có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế hoặc miễn thuế nhưng sau đó có sự thay đổi và chuyển sang đối tượng chịu thuế theo quy định của pháp luật.
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Trị giá tính thuế, thời điểm tính thuế xuất nhập khẩu theo quy định như nào?
Theo quy định tại Điều 8 của Luật thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu năm 2016 về trị giá tính thuế và thời điểm tính thuế, cụ thể như sau:
- Trị giá tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu được xác định là trị giá hải quan theo quy định của Luật hải quan.
- Thời điểm tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.
Đối với hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế xuất khẩu, nhập khẩu hoặc áp dụng loại thuế suất, mức thuế tuyệt đối trong hạn ngạch thuế quan nhưng được thay đổi sang đối tượng chịu thuế, thời điểm tính thuế sẽ được xác định theo thời điểm đăng ký tờ khai hải quan mới.
Thời điểm đăng ký tờ khai hải quan được thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan.
Có thể nói rằng trị giá tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu được xác định dựa trên trị giá hải quan và thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký tờ khai. Điều này đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong các hoạt động xuất nhập khẩu.
